Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

CƠ HỘI THÀNH CÔNG TRONG ĐỜI



Công thức NGHỊ LỰC + ƯỚC MƠ + CƠ HỘI mới thực sự là đủ cho những người thành công.



Bỏ qua những thứ Nghị lực, Ước-mơ cùng các hệ quả của chúng như Tài-năng Học-vấn Chăm-chỉ Kiên nhẫn Quyết-tâm, tất cả những thứ này đều có thể trau dồi, và ai cũng có sẵn một chút trong người. Chỉ có Cơ hội là thứ hầu như nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta, và thường được nhắc đến với vẻ coi thường. "Kẻ cơ hội" còn được coi là một lời thóa mạ đau nhất.

Một ví dụ mang tính tổng quát, phù hợp với người Việt,  đó là trường hợp của anh Trung Dung. Đây anh ấy đây :
Trông anh ấy cũng chẳng nổi bất lắm, :D.

Những người ở Mỹ hẳn không lạ gì anh Trung Dung này. Anh ấy đã được coi là người Việt Kiều giàu nhất khi bán công ty phần mềm OnDisplay cho Vignette lấy 1,8 tỷ đô vào năm 2000 sau hơn chục năm sang Mỹ với "chỉ 2 đô la trong túi quần tà lỏn". Thực ra ý tưởng của anh ấy không mới (không thể so với Oracle Ent hay SAP Ent về quy mô, xin đọc thêm trên mạng), và trình độ kỹ thuật thuần túy của anh ấy không hơn nhiều người khác. Cơ hội của anh ấy đến khi đột nhiên tìm ra được ông chủ kếch xù Mark Pine đồng ý đầu tư cho phần mềm non trẻ của mìnhvào năm 1996.

Vậy thì cơ hội thường đến với bạn một cách ngẫu nhiên, rất chi là huyễn hoặc tới mức "không tin nổi"? Các bạn hãy xem thêm tấm gương ông tổ nghề lưu hóa cao su Charles Goodyear, chỉ vì đánh rơi mẩu cao su vào bếp lửa mà đã nên danh.

Tuy nhiên khi cơ hội tới, mà bạn không tận dụng được, thì đừng kêu la tại sao cơ hội bỏ rơi bạn. Hồi kết của cuộc đời ông Goodyear nói trên là minh chứng. Do bị ăn cắp bản quyền quá nhiều, mà Goodyear trở thành một con nợ lớn với 200,000 đô không trả nổi lúc lìa trần.

Vậy thì:

1- Làm thế nào để có cơ hội?
2- Làm thế nào để cơ hội không vuột mất?

Câu hỏi thứ 2 thực sự khó và phụ thuộc từng cá nhân từng hoàn cảnh, các bạn hãy tự chiêm nghiệm và tìm câu trả lời cho mình.
Câu hỏi thứ 1 mang nặng tính lý thuyết, và dưới đây là các nguyên tắc cần nắm.

I. Tìm đến chỗ có nhiều cơ hội hơn
Ở nông thôn ít cơ hội hơn thành phố, ở thành phố ít cơ hội hơn bên Mỹ .
Quá đơn giản, nhưng thực sự đó là chân lý. Không cả gan vượt biển, thì Trung Dung có gặp được Mark Pine không?
Vỉa hè ít cơ hội hơn cao ốc, cao ốc ít cơ hội hơn sân golf.
Đó cũng là chân lý nốt. Hãy từ chối mức lương 5 trẹo cho sếp một tiệm tạp hóa, và nhận mức lương 2 trẹo cho nhân viên lễ tân của hãng Coca Cola.
Phải tìm đến chỗ cơ hội rơi vãi đầy mặt đất, một bước chân ta cũng có cơ hội dẫm trúng một cơ hội.

II. Không bỏ qua thời cơ tiếp xúc với đối tượng có thể cho ta cơ hội
Ông/Bà ta có thể là một người đi cùng thang máy. Ông/Bà ta có thể vấp ngã ở phố chợ trong khi bạn có thể đỡ dậy và trấn an. Vân vân. Nhưng đấy chưa phải là vấn đề cần nhấn mạnh.
Ông/Bà ta có thể đánh mất cái điện thoại di động mà bạn vô tình nhặt được. Một người tầm thường sẽ giữ lấy mà dùng. Chối bỏ một món giời ơi trị giá mấy triệu quả cũng không dễ. Nhưng bạn, một người thành công trong tương lai, thì không nên làm vậy. Hãy bật điện thoại, chờ cuộc gọi của chủ nhân nó, hãy đặt cược vào cuộc nói chuyện với người đó. Nếu ông/bà ta không thể cho bạn cơ hội, nghĩa là cơ hội của bạn chưa đến.
Cái điện thoại chỉ là chuyện nhỏ. Nếu ta nhặt được cái bóp có 10,000 đô thì sao? Nếu muốn có cơ hội, hãy thử thêm một lần nữa.

III. Sẵn sàng đón nhận cơ hội
Tất nhiên rồi, nếu không sẵn sàng đón cơ hội thì tại sao Sir Newton được trái táo rơi trúng cái trán hói trong lúc đang thèm ăn bánh tráng, và phát minh ra định luật lớn nhất của đời ông? Sẵn sàng đón cơ hội nghĩa là phơi mình ra trước mọi cơ hội, kể cả cơ hội đểu.
Hướng ngoại là đặc tính tiên quyết của những người có khả năng chộp cơ hội thiên bẩm. Thống kê cho thấy người hướng ngoại có tỷ lệ thành công áp đảo so với người hướng nội. Hãy mở lòng ra tung tóe, hãy thẳng thắn chứng minh mình giỏi giang và sẵn lòng nghênh chiến. Khiêm tốn và nhũn nhịn là cái nết của kẻ quân tử Tàu, những người thích "Nhẫn" và "Thiền", rất ít cơ hội vớ được một cơ hội thực sự. Nếu khiêm nhường, hãy đi làm ông giáo làng.

Nguồn : Đâu đó bên facebook của An Hoàng Trung Tướng.

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 10 : NHỊ THẬP THẤT TỲ CÔNG



(10) Nhị Thập Thất Tì Công

Tì Công vôcùng đắcdụng cho Lừa hiệnđại. Nó trị tiểu-đường bốc hơn Insulin, sure.

::Triếtlý::

Tì Công không là tập Lách, mà tổnghợp Lách, Mật, Tụy, vươnvươn.

Lách Mật Tụy khai khiếu ra Mặt. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ. Hỏi thằng Gúc ý.

::Công::

(i) Mắt rắm. Thở đều.

(ii) Đặt hai cườm bàn-tay vào hai hốc Mắt, làm như sắp bưng thủ lên.

(iii) Di mạnh & chậm hai cườm tay miết Mắt, tay trái sang trái, tay phải sang phải, đồngthời.

(iv) Lặp (ii) và (iii), nhưng ở Mép thay-vì Mắt.

(v) Lặp (ii) và (iii) ở Mắt, again.

(vi) Lặp (ii) và (iii) ở Trán.

(vii) Lặp (ii) và (iii) ở Mắt, again.

(viii) Lặp (ii) và (iii) ở Mép, again.

(ix) Tuầntự Mắt-Mép-Mắt-Trán-Mắt etc, 27 Công, xong Bài.

::Note::

(i) Công khởi từ Mắt, và kết tại Mắt.

(ii) Tổngcộng Mắt hưởng 14 công, Mép 7 công, Trán 6 công.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 8 : THẬP LỤC DƯƠNG CÔNG



(8) Thập Lục Dương Công

Đây hẳn là Công được mong nhất. Nhưng hehe, nó giảnđơn như Ông Tơn, xứng đạidiện Dâm Công.

::Triếtlý::

Coi Thập Tỹ Công.

::Công::

(i) Mắt mở. Thở bìnhthường. Thưthái toàn thân.

(ii) Chụm hai bàn-tay áp Sống Mũi, giữa hai mắt, như kiểu cúng-cụ.

(iii) Mắt trái nhìn kịch tầm trái, mắt phải nhìn kịch tầm phải.

(iv) Vuốt mạnh & nhanh hai bàn-tay dọc Mũi, trên xuống dưới.

(v) Lặp (ii) đến (iv) 16 lượt.

(vi) Lặp (v) 3 lần. Tổngcộng 3x16 Công, xong Bài.


::Note::

(i) Người chột hay mù, Dương Công không đổi.

(ii) Cốgắng giữ hai mắt nhìn hai phía suốt Bài.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 6 : THẬP NHỊ TÂM CÔNG



(6) Thập Nhị Tâm Công

::Triếtlý::

Tim là Tạng cầnmẫn nhất và lựclưỡng nhất cơthể. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ.

Tim khai-khiếu ra Răng Lợi. Tim ốm thì răng sâu, răng hồng, răng túa máu, lợi bợt, lợi tím, lợi lõm thân. Tim đau thì răng vàng lợi vàng. Tên nào rụng tiệt răng, chắc-ăn Tim ngọnguậy như bọ-gậy.

::Công::

(i) Ngậm mồm.

(ii) Rít đầy bụng hơi. Nín thở.

(iii) Nghiến mạnh Răng hai hàm 12 lượt.

(iv) Há mồm. Phả hơi sạch bụng.

(v) Lặp (i) đến (iv) 3 lần. Tổngcộng 3x12 Công, xong Bài.

::Note::

(i) Người mới tập có-thể dùng một bàn-tay siết hàm dưới.

(ii) Cốgắng vậndụng cơ cổ để nghiến răng thay cơ hàm.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 5 : THẬP NHẤT PHẾ CÔNG



(5) Thập Nhất Phế Công

Phế Công khó và hiệuquả như Tỹ Công.

::Triếtlý::

Phổi là Tạng vấtvả nhất và lớn nhất cơthể. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ.

Phổi khai-khiếu ra Đít. Phổi ốm thì đít xanh, đít nóng, đít nẻ. Phổi trụy thì đít vàng. Tên nào lòi rom, chắc-ăn lép Phổi.

::Công::

(i) Mở mồm vừa-phải.

(ii) Nhả hơi. Ngưng thở.

(iii) Vận cơ Đít rặn mạnh như rặn ỉa táo.

(iv) Hít hơi. Mút Đít vào bụng.

(v) Lặp (ii) đến (iv) 11 lượt. Tổngcộng 11 Công, xong Bài.

::Note::

(i) Chỉ rặn & mút đít, không rặn & mút kèn.

(ii) Người bị trĩ mút đít 3 phát sau rặn.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 4 : THẬP TỸ CÔNG



(4) Thập Tỹ Công

Tỹ Công là bài khó bậc nhất Thập Dâm Công, nhưng hiệuquả mau nhất và dễ thấy nhất.

::Triếtlý::

Tỹ Công không là tập Mũi, mà nộithất Mũi, Xoang, Họng.

Ở Ông Người, và any độngvật, Mũi là Kèn Mirror, aka Gương Của Buồi.

Voi mũi dài hơn chân, thì kèn lê chấm đất, đục một bưởng nửa ngày, tinh phụt một phê 30 phút.

Gà Vịt Ngan kèn nhẽo tựa dây-thun, nhẩy một quắn 2 giây, tinh vẩy loãng hơn ỉa chẩy, thì hehe không mũi.

Tây Đen mũi bự sưtử, thì kèn bằng gốc tre, bão chín cú một trưa.

Lừa Vàng mũi bẹt đườiươi, thì kèn như quẩy nhúng, hai tuần mưa một bãi.

Sungsướng: mũi nở, kèn cương.

Chánchường: kèn chùn, mũi tắc.

::Công::

(i) Ngậm mồm.

(ii) Hít hơi. Ngưng thở.

(iii) Vận cơ bẹn mút mạnh Kèn vào bụng. Nhả hơi.

(iv) Lặp (ii) và (iii) 10 lượt. Tổngcộng 10 Công, xong Bài.

::Note::

(i) Chỉ mút kèn, không mút đít.

(ii) Liền-bà không kèn, thì mút thớt aka bướm.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 3 : CỬU NHÃN CÔNG



(3) Cửu Nhãn Công

::Triếtlý::

Nhãn Công không là tập Mắt, mà nộithất Mắt, Tai, Sọ, Thóp.

Nhãn Công liênđới Tràng Công, một Bí Dâm Công (không published), nên Trung Tướng không giảithích triếtlý. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ.

::Công::

(i) Mở căng mắt.

(ii) Một ngón-tay cái (either phải/trái) bấm mạnh Rốn.

(iii) Hít/Thở thật dài 9 hơi. Tổngcộng 9 Công, xong Bài.

::Note::

(i) Khi thở, ngón-tay vẫn keep bấm rốn.

(ii) Mắt mở bành, cấm chớp, đến hết 9 lượt Công.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 2: BÁT THẬN CÔNG



(2) Bát Thận Công

::Triếtlý::

Thận Ông Người đóng vaitrò gần như Gan nó. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ.

Thận cần Công ngay sau Gan.

Thận khai-khiếu ra Lưỡi. Thận ốm thì lưỡi sưng, lưỡi nóng, lưỡi xanh, lưỡi tưa, lưỡi hột. Thận suy thì lưỡi vàng. Tên nào nghiện nốc đồ quá bỏng quá cay, chắc-ăn hỏng mẹ Thận.

::Công::

(i) Khép mồm.

(ii) Kẹp Lưỡi giữa răng.

(iii) Nuốt bọt khan 8 lượt. Tổngcộng 8 Công, xong Bài.

::Note::

(i) Người mới tập dùng ngón-tay đè giữ yếthầu.

(ii) Công liêntục không ngắcngứ. Chưa quen sẽ rất mệt.


Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 1: THẤT CAN CÔNG


(1) Thất Can Công
::Triếtlý::
Tim, Phổi trụctrặc ít ảnhhưởng nặng các phủtạng khác. Nhưng Gan trụctrặc khiến toàn cơthể bầyhầy. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ.
Ở Lừa, Gan càng dễ trụctrặc. Mọi độc-hại hạng nhất Quả-đất, từ khíquyển, núi-sông, đồng-ruộng.. đều tích cả vào gan Lừa. Đừng hỏi tại-sao, Trung Tướng chưởi chết-cụ giờ.
Vậy Gan cần Công đầutiên.
Gan khai-khiếu ra Mắt. Gan ốm thì quáng-gà, mắt mờ, mắt sưng, mắt nóng, mắt đỏ. Gan viêm thì mắt vàng. Tên nào để mắt lèmnhèm, mắt hột, chắc-ăn hư mẹ Gan.
::Công::
(i) Rắm chặt hai mắt.
(ii) Mắt Trái đảo nhìn trái, Mắt Phải giữ đứng nguyên.
(iii) Mắt Phải đảo nhìn phải, Mắt Trái giữ đứng nguyên.
(iv) Tiếp Mắt Trái, Mắt Phải, Mắt Trái, Mắt Phải.. đủ 7 lượt.
(v) Hé mắt, thở dài 3 hơi. Lại rắm mắt, đảo 7 lượt nữa. Lần này Mắt Phải làm trước.
(vi) Lặp (v) thêm lần nữa. Lần này Mắt Trái làm trước. Tổngcộng 3x7 Công, xong Bài.
::Note::
(i) Người mới tập dùng ngón-tay đè giữ một mắt khi đảo mắt kia.
(ii) Cốgắng bỏ thói trên càng chóng càng tốt.
Nguồn : An Hoàng Trung Tướng

THẬP DÂM CÔNG

Photo Unknown. Source Somewhere In The Net


Bấthủ Thập Dâm Công, thuật Đếvương Dâmdục

Khang Hy Thanh Thánh Tổ bên Tầu được cưsĩ họ Bạch (hoặc Bách) hiến một ngón luyện công cực hiểm kêu Đế Dâm Thuật, dịch qua tiếng Lừa là Thuật Đếvương Dâmdục.

Nhờ Đế Dâm Thuật, Hy ở ngôi Thanh Đế 60 năm, phụcvụ thànhcông 1,500 cungnữ, đẻ 40 hoàngtử côngchúa, đêm tỉn mươi-mười-lăm nhát dễ như người-ta thổi ba bốn ngọn đèn-cầy.


Đế Dâm Thuật hiểm nhưng đơngiản đến-nỗi con-giai Hy, Ung Chính Thanh Thế Tông, đếch tin vạnnăng của ổng bằng các món thuốc Tây, và tèo sớmsủa bởi lạmdụng Cuổ Rwần Nuểh, một dạng Kích Dương Thang Trung Cổ, do bọn Phổ cungứng.


Cháu-giai Hy, Càng Long Thanh Cao Tông, rút mẹ kinhnghiệm cha ông, miệtmài tu Đế Dâm Thuật suốt 90 năm đời nó, phụcvụ viênmãn 3,000 phitần cả nữ lẫn nam, mà tuần nào cũng phải chơi thêm phò ngoài, cả giai lẫn gái.

Đế Dâm Thuật từng được coi là Hoàng Gia Bí Thuật, cấm truyền khỏi Hoàng Cung, và cấm truyền xuống Bướm Đoi Cách Cách aka đàn-bà. 

Nhưng rồi chó-voi chìm-nổi, vai-đít thịnh-suy, Thanh Triều tantác một buổi kia bạcnhạc, Đế Dâm Thuật lạc mẹ vào dângian.

Tới Trung Tướng, Đế Dâm Thuật được nâng thành Thế Dâm Đạo, bổsung và kiệntoàn, chămchút và kiểmnghiệm. Ổng đồnghành Trung Tướng đã 30 năm lẻ.

Nhờ Thế Dâm Đạo, Trung Tướng chưa bao-giờ thăm hiệu-thuốc, tạt bệnh-viện, gọi y-tá, hay hỏi 1080. Chân Trung Tướng chưa bao-giờ chán chạy, và kèn đươngnhiên chưa một giây ngừng thèm hựhự.  


Thế Dâm Đạo & Thập Dâm Công

Trung Tướng pháttriển Thế Dâm Đạo với 10 bài-tập, kêu Thập Dâm Công, từ 4 bài Tứ Dâm Công của Đế Dâm Thuật nguyênthủy.
 



Tứ Dâm Công by Khang Hy gồm:

1. Nhãn Công (Tập Mắt).
2. Thiệt Công (Tập Lưỡi).
3. Nha Công (Tập Răng).
4. Hạ Công (Tập Đít).


Thập Dâm Công by Trung Tướng gồm:

1. Thất Can Công (7 lượt tập Gan).
2. Bát Thận Công (8 lượt tập Thận).
3. Cửu Nhãn Công (9 lượt tập Mắt).
4. Thập Tỹ Công (10 lượt tập Mũi).
5. Thập Nhất Phế Công (11 lượt tập Phổi).
6. Thập Nhị Tâm Công (12 lượt tập Tim).
7. Thập Tam Vị Công (13 lượt tập Dạ).
8. Thập Lục Dương Công (16 lượt tập Kèn).
9. Thập Cửu Tràng Công (19 lượt tập Lòng).
10. Nhị Thập Thất Tì Công (27 lượt tập Lách).


Chú-ý Nhãn Công Trung Tướng khác Nhãn Công Khang Hy.


Mười bài-tập (aka Công) của Thế Dâm Đạo có-thể luyện bấtcứ lúc nào, bấtcứ đâu: trên giường trước ngủ, trong xí đang ỉa, bên bàn chờ ăn, họp nghịtrường, học giảngđường, dõi tivi, vươnvươn vươnvươn everywhere everywhen everything.



Không cần dụngcụ thiếtbị, không nhọc sức, không mất thờigian, không tốn xèng, Thập Dâm Công điêuluyện cách bấthủ.

 

Ai cũng có-thể và nên Công, bất-kể giớitính, tuổitác, nghềnghiệp, họcvấn, tínngưỡng..


::Triếtlý::

Nộitạng (aka Tạng) Ông Người nằm tọt nộibộ nó, nhưng liênlạc ngoạivi nó qua một giácquan (aka Quan), gọi là Khai Khiếu.

Thế Dâm Đạo chủtrương, muốn Công một Tạng, phải Động Quan tươngứng, gọi là  Thông Khiếu.
Mười bài dâm công là mười phép Thông Khiếu.
Sau đây, sẽ lần lượt giới thiệu cụ thể 10 phép thông khiếu.

1.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 1 : THẤT CAN CÔNG
2.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 2 : BÁT THẠN CÔNG 
3.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 3 : CỬU NHÃN CÔNG 
4.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 4 : THẬP TỸ CÔNG 
5.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 5 : THẬP NHẤT PHẾ CÔNG
6.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 6 : THẬP NHỊ TÂM CÔNG
7.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 8 : THẬP LỤC DƯƠNG CÔNG
8.PHÉP THÔNG KHIẾU THỨ 10 : NHỊ THẬP THẤT TÂM CÔNG


Bonus 1: Thơ Dâm Công

Can Thận Nhãn Tỹ Phế
Tâm Vị Dương Tràng Tì
Gan Thận Mắt Mũi Phổi
Tim Dạ Kèn Lòng Mề

Gan công Tròng Mắt
Thận công Lõi Mồm
Mắt công Hõm Rốn
Mũi công Cuống Kèn

Phổi công Lỗ Đít
Tim công Răng Nhai
Dạ công XX
Kèn công Mũi Dài

Lòng công ZZ
Mề công Trán Môi
Thế Dâm mười món
Dễ như vung buồi.


 Nguồn :An-Hoàng-Trung-Tướng.

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

Chưa đặt tên

Xuân miên bất giác hiểu
Xứ xứ văn đề điểu
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu
Dịch :
Đêm xuân một giấc còn mê
Tiếng chim đâu đã bốn bề xôn xao
Hồi hôm gió táp mưa rào
Chỉ e hoa rụng biết bao nhiêu cành
                     ( Tản Đà dịch)